HPG - Hòa Phát

REVIEW BÁO CÁO TÀI CHÍNH HPG - Q3.2020
- Kết thúc kỳ kinh doanh Q3.2020 DT đạt 24.968 tỷ, tăng + 9.618 tỷ, tương đương tăng +63% so với cùng kỳ năm 2019. Lũy kế
09 tháng Doanh thu đạt 65.113 tỷ, tăng +19.253 tỷ, tương đương +42% so với cùng kỳ.
- LNST đạt 3.785 tỷ, tăng +1991 tỷ tương đương tang +42% so với cùng kỳ 2019. Lũy kế 09 tháng LNST đạt 8845 tỷ, tăng +3190
tỷ tương đương tăng +56% so với cùng kỳ.


- Cả HSG và HPG đều có sự thay đổi về Biên LNG và BLNR trong các quý gần đây, tuy nhiên biên LN của HPG cao hơn hẳn so
với các cty cùng ngành. Hiện tại biên LNG và BLNR của HPG lần lượt là 21% và 15.2% so với HSG là 15% và 4.6%
- Biên LNG của HPG có sự sụt giảm đáng kể và tạo đáy vào Q4.2019 do chi phí tài chính tăng cao trong khi chưa có nguồn thu từ
việc mở rộng và đầu tư nhà máy mới. Tuy nhiên các quý gần đây khi NM mới bắt đầu ra sản lượng thì biên LNR được cải thiện
đáng kể và có sự chuyển biến tăng trưởng tích cực từ Q4.2019 đến nay

- Về cơ cấu Doanh thu: mảng nông nghiệp diễn biến tích cực và tăng mạnh thị phần năm nay, cơ cấu mảng này năm 2019 chỉ chiếm 3%, nhưng 2020 mảng này đã đóng góp tích cực vào trọng số chung và ghi nhận con số ấn tượng, tăng lên +17%.
- Công ty tập trung duy trì và tăng thị phần ở các mảng có biên LNG cao và đóng góp chính là nhân tốt góp phần tăng hiểu của hoạt động SXKD của DN.
- Mảng thép xây dựng đánh dấu sự tăng trưởng mạnh mẽ của HPG, thị phần tăng thêm +4.7% đồng nghĩa với việc thị phần
của các chủng loại thép khác bị thu hẹp lại như: Việt Đức, Formosa...
- Mảng Ống thép cũng đánh dấu sự chuyển biến tích cực khi HPG gia tăng thêm thị phần từ 31.7% lên 34.9% Q3.2020
- Mảng tôn mạ: đây vốn dĩ là mảng chiếm lợi thế của HSG, nhưng năm nay có sự cạnh tranh và nổi lên mạnh mẽ của tôn
Đông Á nên HSG đã bị giảm thị phần từ 28% xuống còn 24.4%, ngược lại thị phần tôn Đông Á Tăng lên 17.8%

- Mảng xuất khẩu chuyển biến khá tích cực, sản lượng XK tính đến hết T8/2020 đạt 5.96 triệu tấn (+37% YoY), trị giá 3.1 tỷ
USD (+9.6% YoY).
- Giá xuất khẩu bình quân giảm 20% YoY về 522 USD/tấn do: tăng xuất khẩu phôi thép và xu hướng giảm của giá thép thế giới. 
- Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 19 lần do nhu cầu tiêu thụ nội địa của quốc gia này tăng mạnh trong khi nguồn cung chưa thể gia tăng ngay để đáp ứng.
- Xuất khẩu thép của Hòa Phát tăng mạnh sau khi KLH Hòa Phát Dung Quất GD1 đi vào hoạt động cuối 2019.

- Ngoài sự gia tăng mạnh mẽ về XK thì các sản phẩm thép của VN còn được bảo hộ bởi Các biện pháp phòng vệ thương mại được áp dụng với hầu hết sản phẩm thép, ngoại trừ thép cuộn cán nóng.
- Một số thay đổi về thuế phòng vệ thương mại trong 8T2020:
+ Không gia hạn thuế tự vệ với sản phẩm tôn màu (19% với sản lượng ngoài hạn ngạch) từ 15/06/2020;
+ Gia hạn thuế tự vệ với sản phẩm thép và phôi thép dài từ 22/03/2020 với mức thuế giảm lần lượt hàng năm là 2% với phôi thép và 1.5% với thép dài;


- 9T2020 ghi nhận 8 vụ khởi xướng điều tra chống bán phá giá với các sản phẩm thép Việt Nam, đặc biệt là thép dẹt.
- Canada, Malaysia áp dụng thuế CBPG tạm thời, Ấn Độ công bố thuế CBPG chính thức

- Quặng sắt: Áp lực giảm về cuối năm do:
+
Tồn kho quặng của Trung Quốc dần tăng lên, nhu cầu nhập quặng đầu cơ giảm;
+ Nguồn cung tăng từ Vale (Brazil) sau khi bị gián đoạn do dịch bệnh Than luyện coke: Dự báo hồi phục vào cuối năm khi
nhu cầu than cho sản xuất tăng lại.

+ HRC: Giá sẽ duy trì ổn định trong khoảng 500-550 USD/tấn trong nửa cuối năm khi giá quặng sắt dự báo giảm và nhu
cầu HRC toàn cầu chưa thể hồi phục mạnh như thép xây dựng.
- Giá than và giá thép phế giảm do nhu cầu toàn cầu yếu. Ngược lại, giá quặng sắt tăng khi suy giảm của nguồn cung trong
ngắn hạn lớn hơn giảm trong nhu cầu.
- Nhu cầu yếu khiến giá thép bình quân 8T2020 giảm 12-16% YoY. Giá thép bắt đầu hồi phục từ T8 sau khi giảm từ đầu
năm nhờ nhu cầu hồi phục và giá quặng sắt tăng